Hỏi:
Trả lời:
- Về việc lựa chọn và áp dụng phương pháp thẩm định giá, tại Khoản 4 Điều 3 và Khoản 1 Điều 4 Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về phạm vi công việc thẩm định giá ban hành kèm theo Thông tư số 30/2024/TT-BTC ngày 16/5/2024 quy định:
“Điều 3. Nội dung phạm vi công việc thẩm định giá
4. Căn cứ đặc điểm tài sản thẩm định giá và thông tin thu thập được, tiến hành lựa chọn và áp dụng phương pháp thẩm định giá phù hợp theo quy định tại Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam.
…
Điều 4. Yêu cầu khi áp dụng phương pháp thẩm định giá
1. Căn cứ các cách tiếp cận thẩm định giá quy định tại các chuẩn mựcthẩm định giá Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành, thẩm định viên phân tích và lựa chọn các phương pháp thẩm định giá phù hợp với mục đích thẩm định giá, cơ sở giá trị của tài sản, mức độ sẵn có của các dữ liệu, thông tin để áp dụng các phương pháp thẩm định giá và phù hợp với các quy định của pháp luật liên quan (nếu có).”
Theo đó, Hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam đã quy định các cách tiếp cận và phương pháp thẩm định giá để xác định giá trị tài sản thẩm định giá. Việc lựa chọn cách tiếp cận, phương pháp thẩm định giá cần căn cứ vào mục đích thẩm định giá, cơ sở giá trị thẩm định giá, đặc điểm của tài sản thẩm định giá, mức độ sẵn có và độ tin cậy của các thông tin, dữ liệu thu thập được tại thời điểm thẩm định giá và các quy định có liên quan của Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam.
- Trường hợp doanh nghiệp thẩm định giá, thẩm định viên về giá lựa chọn phương pháp so sánh thuộc cách tiếp cận từ thị trường để thẩm định giá tài sản thì phải tuân thủ theo các quy định tại Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về Cách tiếp cận từ thị trường Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2024/TT-BTC ngày 16/5/2024 của Bộ Tài chính.
Cụ thể: Tại Khoản 2 Điều 5 Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về Cách tiếp cận từ thị trường quy định: “2. Phương pháp so sánh được áp dụng để thẩm định giá tài sản có hoạt động chuyển nhượng hoặc chào mua hoặc chào bán công khai trên thị trường. Một tài sản được coilà có hoạt động chuyển nhượng hoặc chào mua hoặc chào bán công khai trên thị trường khi thu thập đượcít nhất 03 tài sản so sánh từ các tổ chức, cá nhân khác nhau đã chuyển nhượng hoặc được chào mua hoặc chào bán trên thị trường gần thời điểm thẩm định giá và địa điểm của tài sản thẩm định giá.”
Tại Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 10 Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về Cách tiếp cận từ thị trường quy định về việc khảo sát và thu thập thông tin về tài sản so sánh, phân tích thông tin, điều chỉnh sự khác biệt giữa tài sản thẩm định giá với tài sản so sánh, xác định mức giá chỉ dẫn của các tài sản so sánh và xác định giá trị của tài sản thẩm định giá. Trong đó, tại Điều 10 Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về Cách tiếp cận từ thị trường quy định:
“Điều 10. Xác định giá trị của tài sản thẩm định giá
1. Việc xác định giá trị của tài sản thẩm định giá được thực hiện trên cơ sở mức giá chỉ dẫn của các tài sản so sánh kết hợp với việc phân tích chất lượng thông tin của các tài sản so sánh (về nguồn thông tin, về mức độ tin cậy và phù hợp của thông tin) và các tiêu chí sau đây:
a) Tổng giá trị điều chỉnh gộp nhỏ nhất (tức là tổng giá trị tuyệt đối của các điều chỉnh là nhỏ nhất);
b) Tổng số lần điều chỉnh càng ít càng tốt;
c) Biên độ điều chỉnh (nghĩa là mức hoặc tỷ lệ % điều chỉnh) của một yếu tố so sánh càng nhỏ càng tốt;
d) Tổng các giá trị điều chỉnh thuần nhỏ nhất tức là tổng của các điều chỉnh là nhỏ nhất.
2. Trong trường hợp cần thiết, cần đánh giá các động thái, diễn biến và xu hướng biến động của cung cầu thị trường trước khi đưa ra giá trị của tài sản thẩm định giá cuối cùng bằng phương pháp so sánh./.”
Căn cứ vào các quy định nêu trên, trường hợp thực hiện thẩm định giá tài sản, bao gồm khoản nợ, tài sản bảo đảm, đề nghị doanh nghiệp thẩm định giá, thẩm định viên về giá thực hiện theo các quy định của Luật Giá và các văn bản hướng dẫn (Hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam). Trường hợp nguồn thông tin thu thập không đáp ứng được hoặc xét thấy hồ sơ, tài liệu để thực hiện thẩm định giá không đủ hoặc không bảo đảm tin cậy thì doanh nghiệp có quyền từ chối thực hiện dịch vụ thẩm định giá theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 53 Luật Giá.
Ngoài ra, do nội dung câu hỏi đề cập đến vấn đề xử lý tài sản trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Vì vậy, đề nghị Công ty nghiên cứu các quy định liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng để thực hiện theo đúng quy định.
Bộ Tài chính trả lời để Công ty được biết và thực hiện theo quy định./.
