THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính gửi Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính. Công ty chúng tôi có một số vướng mắc cần Quý Bộ giải đáp, hướng dẫn trong việc thẩm định giá khoản nợ xấu, TSBĐ của khoản nợ xấu đối với trường hợp cụ thể như sau: - Doanh nghiệp đang thẩm định giá một khoản nợ xấu (nhóm 5) tại một tổ chức tín dụng. Tài sản bảo đảm của khoản nợ rất phức tạp, phần lớn không đủ hồ sơ và cơ sở pháp lý (ví dụ: dự án hết thời hạn thuê đất, chưa đủ hồ sơ pháp lý) nên không thể tiến hành thẩm định giá độc lập. Do đặc thù của khoản nợ và tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm, doanh nghiệp không thể tìm được 03 tài sản so sánh (các khoản nợ tương đồng) trên thị trường để áp dụng phương pháp so sánh theo quy định. - Cách xử lý của doanh nghiệp: TCTD đã đem chào bán công khai chính khoản nợ này trên web sàn giao dịch mua bán nợ và thu được 03 báo giá chào mua hợp pháp từ các tổ chức/cá nhân độc lập với cùng một điều kiện (đề xuất giá chào mua, không quy định về điều kiện thanh toán, cam kết và thời hạn hiệu lực chào mua). Doanh nghiệp dùng trung bình cộng của 03 báo giá này để xác định giá trị khoản nợ (mức giá bình quân đảm bảo chênh lệch không quá 15% so với từng mức giá chào mua). (*) Nội dung câu hỏi xin ý kiến (trọng tâm):Trong trường hợp không tìm được tài sản so sánh tương đồng trên thị trường, việc doanh nghiệp thẩm định giá lấy giá bình quân của 03 báo giá chào mua công khai của chính tài sản đang cần thẩm định (với điều kiện các báo giá cùng tiêu chí và chênh lệch không quá 15%) để xác định giá trị tài sản thì có phù hợp với hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành hay không?. Kính mong Cục Quản lý giá sớm giải đáp, hướng dẫn để Công ty có cơ sở thực hiện thẩm định giá khoản nợ này. Trân trọng cảm ơn./.
14/10/2026
Trả lời:

- Về việc lựa chọn và áp dụng phương pháp thẩm định giá, tại Khoản 4 Điều 3 và Khoản 1 Điều 4 Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về phạm vi công việc thẩm định giá ban hành kèm theo Thông tư số 30/2024/TT-BTC ngày 16/5/2024 quy định:

“Điều 3. Nội dung phạm vi công việc thẩm định giá

4. Căn cứ đặc điểm tài sản thẩm định giá và thông tin thu thập được, tiến hành lựa chọn và áp dụng phương pháp thẩm định giá phù hợp theo quy định tại Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam.

…

Điều 4. Yêu cầu khi áp dụng phương pháp thẩm định giá

1. Căn cứ các cách tiếp cận thẩm định giá quy định tại các chuẩn mựcthẩm định giá Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành, thẩm định viên phân tích và lựa chọn các phương pháp thẩm định giá phù hợp với mục đích thẩm định giá, cơ sở giá trị của tài sản, mức độ sẵn có của các dữ liệu, thông tin để áp dụng các phương pháp thẩm định giá và phù hợp với các quy định của pháp luật liên quan (nếu có).”

Theo đó, Hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam đã quy định các cách tiếp cận và phương pháp thẩm định giá để xác định giá trị tài sản thẩm định giá. Việc lựa chọn cách tiếp cận, phương pháp thẩm định giá cần căn cứ vào mục đích thẩm định giá, cơ sở giá trị thẩm định giá, đặc điểm của tài sản thẩm định giá, mức độ sẵn có và độ tin cậy của các thông tin, dữ liệu thu thập được tại thời điểm thẩm định giá và các quy định có liên quan của Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam.

- Trường hợp doanh nghiệp thẩm định giá, thẩm định viên về giá lựa chọn phương pháp so sánh thuộc cách tiếp cận từ thị trường để thẩm định giá tài sản thì phải tuân thủ theo các quy định tại Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về Cách tiếp cận từ thị trường Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2024/TT-BTC ngày 16/5/2024 của Bộ Tài chính.

Cụ thể: Tại Khoản 2 Điều 5 Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về Cách tiếp cận từ thị trường quy định: “2. Phương pháp so sánh được áp dụng để thẩm định giá tài sản có hoạt động chuyển nhượng hoặc chào mua hoặc chào bán công khai trên thị trường. Một tài sản được coilà có hoạt động chuyển nhượng hoặc chào mua hoặc chào bán công khai trên thị trường khi thu thập đượcít nhất 03 tài sản so sánh từ các tổ chức, cá nhân khác nhau đã chuyển nhượng hoặc được chào mua hoặc chào bán trên thị trường gần thời điểm thẩm định giá và địa điểm của tài sản thẩm định giá.”

Tại Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 10 Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về Cách tiếp cận từ thị trường quy định về việc khảo sát và thu thập thông tin về tài sản so sánh, phân tích thông tin, điều chỉnh sự khác biệt giữa tài sản thẩm định giá với tài sản so sánh, xác định mức giá chỉ dẫn của các tài sản so sánh và xác định giá trị của tài sản thẩm định giá. Trong đó, tại Điều 10 Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về Cách tiếp cận từ thị trường quy định:

“Điều 10. Xác định giá trị của tài sản thẩm định giá

1. Việc xác định giá trị của tài sản thẩm định giá được thực hiện trên cơ sở mức giá chỉ dẫn của các tài sản so sánh kết hợp với việc phân tích chất lượng thông tin của các tài sản so sánh (về nguồn thông tin, về mức độ tin cậy và phù hợp của thông tin) và các tiêu chí sau đây:

a) Tổng giá trị điều chỉnh gộp nhỏ nhất (tức là tổng giá trị tuyệt đối của các điều chỉnh là nhỏ nhất);

b) Tổng số lần điều chỉnh càng ít càng tốt;

c) Biên độ điều chỉnh (nghĩa là mức hoặc tỷ lệ % điều chỉnh) của một yếu tố so sánh càng nhỏ càng tốt;

d) Tổng các giá trị điều chỉnh thuần nhỏ nhất tức là tổng của các điều chỉnh là nhỏ nhất.

2. Trong trường hợp cần thiết, cần đánh giá các động thái, diễn biến và xu hướng biến động của cung cầu thị trường trước khi đưa ra giá trị của tài sản thẩm định giá cuối cùng bằng phương pháp so sánh./.”

Căn cứ vào các quy định nêu trên, trường hợp thực hiện thẩm định giá tài sản, bao gồm khoản nợ, tài sản bảo đảm, đề nghị doanh nghiệp thẩm định giá, thẩm định viên về giá thực hiện theo các quy định của Luật Giá và các văn bản hướng dẫn (Hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam). Trường hợp nguồn thông tin thu thập không đáp ứng được hoặc xét thấy hồ sơ, tài liệu để thực hiện thẩm định giá không đủ hoặc không bảo đảm tin cậy thì doanh nghiệp có quyền từ chối thực hiện dịch vụ thẩm định giá theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 53 Luật Giá.

Ngoài ra, do nội dung câu hỏi đề cập đến vấn đề xử lý tài sản trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Vì vậy, đề nghị Công ty nghiên cứu các quy định liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng để thực hiện theo đúng quy định.

Bộ Tài chính  trả lời để Công ty được biết và thực hiện theo quy định./.

Gửi phản hồi: