Hỏi:
Trả lời:
Trả lời câu hỏi mã số 170926-19 của độc giả, Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán có ý kiến như sau:
1. Về việc lựa chọn đơn vị tiền tệ trong kế toán
Khoản 1 Điều 10 Luật kế Kế toán quy định:
“...
Đơn vị kế toán chủ yếu thu, chi bằng một loại ngoại tệ thì được tự lựa chọn loại ngoại tệ đó làm đơn vị tiền tệ để kế toán, chịu trách nhiệm trước pháp luật và thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Khi lập báo cáo tài chính sử dụng tại Việt Nam, đơn vị kế toán phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái thực tế, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán quy định:
“Đơn vị tiền tệ sử dụng kế toán là Đồng Việt Nam, ký hiệu quốc gia là "đ", ký hiệu quốc tế là "VND". Trường hợp nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh bằng ngoại tệ, đơn vị kế toán phải đồng thời theo dõi nguyên tệ và quy đổi ra Đồng Việt Nam để ghi sổ kế toán trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; đối với loại ngoại tệ không có tỷ giá hối đoái với Đồng Việt Nam thì phải quy đổi thông qua một loại ngoại tệ khác có tỷ giá hối đoái với Đồng Việt Nam và ngoại tệ cần quy đổi.
Đơn vị kế toán có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh chủ yếu bằng một loại ngoại tệ thì được tự lựa chọn loại ngoại tệ đó làm đơn vị tiền tệ trong kế toán, chịu trách nhiệm về lựa chọn đó trước pháp luật và thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra đơn vị tiền tệ trong kế toán và chuyển đổi báo cáo tài chính lập bằng ngoại tệ sang Đồng Việt Nam được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Căn cứ vào quy định nêu trên, khi lựa chọn đơn vị tiền tệ khác đồng Việt Nam làm đơn vị tiền tệ trong kế toán thì doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
2. Về việc sửa chữa, thay thế một số bộ phận trong tài sản cố định hữu hình (TSCĐ)
Tại điểm g khoản 1 Tài khoản 211- Tài sản cố định hữu hình của Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp quy định (Thông tư số 99/2025/TT-BTC) quy định:
“Các chi phí sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ phát sinh thường xuyên hằng kỳ để TSCĐ hoạt động bình thường được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Các TSCĐ theo yêu cầu kỹ thuật phải được sửachữa, bảo dưỡng định kỳ (như tua bin nhà máy điện, động cơ máy bay...) thì doanh nghiệp được hạch toán chi phí phát sinh vào chi phí chờ phân bổ và định kỳ phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh cho đến kỳ bảo dưỡng tiếp theo. Đối với các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu để nâng cấp, cải tạo làm tăng năng lực hoặc kéo dài thời gian sử dụng của TSCĐ (tănglợi ích kinh tế của TSCĐ) thì được hạch toán tăng nguyên giá TSCĐ.”
Theo đó, khi doanh nghiệp tháo dỡ một số bộ phận của TSCĐ để thay thế bằng thiết bị mới mà thiết bị thay thế mới đó không làm tăng năng lực, kéo dài tuổi thọ/thời gian sử dụng của TSCĐ (tăng lợi ích kinh tế của TSCĐ) thì giá trị của phần thiết bị thay thế được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ (nếu đây là việc sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ phát sinh thường xuyên) hoặc được hạch toán chi phí phát sinh vào chi phí chờ phân bổ và định kỳ phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh nếu đây là các bộ phận được sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ theo yêu cầu kỹ thuật. Trường hợp sửa chữa, nâng cấp, cải tạo làm tăng năng lực, kéo dài tuổi thọ/thời gian sử dụng của TSCĐ thì doanh nghiệp hạch toán tăng nguyên giá TSCĐ.
Doanh nghiệp căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị và các quy định nêu trên để để tự xác định và ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ vào chi phí hay ghi nhận tăng nguyên giá TSCĐ tùy từng trường hợp cụ thể.
3. Việc xác định nghĩa vụ thuế với ngân sách Nhà nước doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế.
Trên đây là ý kiến trả lời của Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán - Bộ Tài chính, đề nghị Quý độc giả nghiên cứu để thực hiện./.
